Thơ Tahar Ben Jelloun

FÈS – BA MƯƠI BÀI THƠ
Bản dịch Nguyễn ĐăngThường
[1]
Fès,
Sách của những cuốn sách
Bản thảo bị chôn vùi
Bỏ quên
Dưới những phiến đá của một ngôi nhà bị cấm
Mỗi trang sách là một câu chuyện cổ tích
Chuột khoét
Mỗi căn nhà là một truyền thuyết
Khó hiểu
Một cánh cửa mở vào
Bóng tối
Những âm tiết rơi thành bụi
Những tảng đá mang thai khạc ra kỷ niệm
Độ ẩm khiến chúng trút linh hồn
Những hình ảnh vỗ đẹp
Bước chân con người giẫm lên thời gian
Họ không ý thức được chuyện mình đang làm
Fès nằm trong những con chữ
Những lối đi nhỏ bị phản bội, bán chác bởi lũ con hư.
[2]
Đó là một cái đầu nặng nề lắc lư
Rung rinh nhưng không rớt
Đó là một trí năng dìm xuống bùn
Đó là thân thể nằm sấp
Dẫn thuỷ bởi cống rãnh
Đó là cái miệng khép lại
Bên ngoài thời gian
Fès đứng dậy và loạng choạng
Những đứa bé từ một nơi khác kéo đến
Khạc nhổ trên hòn đá đang hoài niệm.
[3]
Nỗi bất hạnh nào đã dựng nhà
Trong các con phố nhỏ của tuổi thơ?
Mặt trời bỏ thành phố
Mang các sân thượng vào cát
Các thanh ngang chồng lên nhau
Giữa các bàn tay thợ thủ công
Những bàn tay đầy màu sắc
Gặm nhấm bởi tiếng động và sét gỉ.
Tường vách mọc lên
Bầu trời ngoảnh mặt
Fès buồn ngủ
Nó ngủ để khỏi băng bó các vết thương trên cơ thể.
[4]
Từ ngọn đồi
Fès cầm trong lòng một bàn tay
Bàn tay Thượng Đế hay bàn tay của một kẻ ăn mày
Fès cuộn mình trong im lặng trắng
Im lặng sống động
Phơi trên các sân thượng
Chiếc khăn trải giường của tổ tiên
Fès nằm trong cái bát sứ
Cái dĩa sứ Trung Hoa
Cái rá miên liễu
Ngần ấy yên tịnh thiêu đốt mắt
Fès không còn nằm trong thung lũng hẹp
Fès du lịch, tham quan và thiếp ngủ ở ngoại ô
Venezia.
[5]
Người ta hình dung Moulay Idriss
Dừng ngựa trước một nguồn nước
Và quyết định nơi đó sẽ là trái tim của Fès.
Người ta tin cả chuyện huyền thoại:
Thành phố mang tên cái cuốc đã xé bụng nó.
Người ta yêu các huyền thoại về các nguồn suối cạnh tranh,
Đối chọi nhau bởi ý chí của một kẻ chinh phục từ miền Ả Rập.
Nhưng Fès đã sống và đã quên.
[6]
Trong khu phố Makhfiya
Trong con đường hẹp âm u lát đá
Và gắn miểng chai
Những bức tường đen mồ hóng và hắc ín
Mở ra đón bọn mang thịt lạc đà
Cho các nàng múc nước mạch
Cho các thợ phụ cạo trọc đầu ở lò bánh mì
Như vậy Fès đã đào bí mật của nó
Trong Makhfiya
Fès liệng xuống giếng
Gừng và hột đậu khấu.
Fès nhắm mắt
Và mở các lá phổi đầy những lỗ thủng.
[7]
Các bác thợ thuộc da thú của Fès
Xông mùi da ẩm và hôi
Họ nhúng tay trong nước nóng
Nước đục và nặng
Họ thả linh hồn và định mạng
Trong cái nồi đựng thuốc màu
Đầu họ đầy ứ
Đầu họ tắc nghẽn bởi những tiếc thương
Các bác thợ thuộc da thú của Fès
Sống sót rồi chết lần hồi
Cơ thể lấm màu vàng của nghệ
Trong lúc các tấm da khô dưới nắng.
[8]
Monlay Idriss
Anh lưu dân mang lá cờ màu xanh lá
Kẻ chinh phục có ánh mắt thanh bình
Gã thợ nề với đôi tay trĩu
Vị thánh
Tổ phụ
Chỗ trú của dân ăn xin và ăn trộm
Sứ giả của dân nghèo và của kẻ mạnh
Lăng tẩm thơm lừng
Cổ tích và hỗn mang
Huyền thoại mật ong
Chủ và thầy của thành phố
Người đi tìm nguồn gốc kẻ đập phá các tượng thần
Đạc điền và đo mộng
Tạo tác những mê lộ
Sử ký bất tận của giếng nước và mạch nguồn
Ký ức của lửa
Người chăn giữ linh hồn
Kẻ dựng những tường thành
Chuyển đưa những im lặng
Thi nhân ca ngợi cái đẹp
Moulay Idriss
Đã dựng Fès như người ta trồng một cây ô liu
Trên mảnh đất bị nắng thiêu đốt
Kẻ đã tìm kiếm cội nguồn của nước
Và đã bước theo nó.
[9]
Các sân thượng của Fès
Phủ khăn liệm đang khô ngoài nắng
Những người chết không còn cần đến chúng nữa
Lũ trẻ ở El Gbeb đã nhặt chúng trên các ngôi mộ
Fès không còn biết phải làm gì với các tử thi
Chối bỏ giấc ngủ
Có tin đồn rằng các xác chết nhợt nhạt
Nằm trong tiệm cà phê của El Achabine
Loã lồ
Mắt trắng dã
Tay bị kiến thui.
Thành phố đã lui xuống tầng hầm của kỉ niệm
Để tránh dịch typhus.
[10]
Bầu trời của mùa đông đã phủ trùm lên thành phố
Một tấm ra ướt
Một cái chăn vải mịn
Một bàn tay nhẹ
Một màn sương nhập khẩu.
Bị gói lại
Và cột bằng những sợi cước vàng của đảo Sicily
Fès thu gom đường phố và vòm tháp
Fès chìm trong im lặng
Và những đứa con đang trở về
Fès nấm mồ của kỉ niệm cao cả
Dinh thự của tiếng cười âm vọng
Hay chỉ là chỗ trú đơn sơ của nông dân không đất đai?
[11]
Fès được yêu
Fès bị phản bội
Fès bị quên lãng, mang đi trên một con tàu biển
Tới Venise
Để lau tường và quét phố.
Fès là một đêm của nàng Shaherazade
Với các dinh thự bị hư hao
Những ngõ hẹp
Và các tảng đá của chúng
Những con chữ, những câu thơ và những ngôi sao suy sụp.
Fès đi lại trong Cairo, váy xẻ, ngực trần
Fès toạ thị trong khu chợ Sana’a
Và lau sạch các vết đạn của chiến tranh
Fès chu du
Và vứt bỏ lễ phục cũ
Ở những nơi nàng* bị hen suyễn.
_________
* Ville (thành phố) là một danh từ thuộc giống cái trong tiếng Pháp. Nếu chuyển sang đại danh từ thì sẽ là “elle”. Vì thế mà tác giả đã sự dụng ẩn dụ “Fès-cô-gái-váy-xẻ / Fès-bà-mệnh-phụ”. Chỉ riêng trong bài thơ trên đây người dịch chuyển ngữ “elle” thành “nàng”. Nhưng ở những chỗ khác “elle” được người dịch thay thế bắng từ “Fès” hay phải chuyển dịch thành “nó” (thành phố) thì mới tạm “ổn”.
[12]
Trắng trên trắng
Bí ẩn trên bí ẩn
Ẩn ngữ bạo tàn
Thành phố bứng nhà cửa
Đem chúng đặt trên núi
Chuyển mạch lưu của con sông
Và bỏ mặc đám thợ thuyền không công việc.
Nền đất nện
Nghĩa trang bị quật lên
Cây xếp hàng trong thành phố thủy tinh
Những mối tình cấm kị
Của những cô gái bị quên lãng trong ngôi giáo đường lớn của Hồi Giáo.
[13]
Dấu vết những bàn tay trắng
Trên những kỉ niệm
Trong tủ những chiếc dĩa không còn được sử dụng.
Thông điệp không bao giờ gởi đi
Quấn trong những sợi dây bằng vàng và bằng bạc
Các phiến đá lát cẩm thạch bị cạy lên
Bia đá dâng cho những kẻ vắng mặt
Họ tên và ngày tháng
Hoa hồng và cành cọ cẩn gỗ và thạch cao
Fès bỏ ngỏ
Rót đầy bình hương và mang vào
Đền Hồi Giáo, nhà tắm công cộng, nhà tù đang ăn mừng.
Có cách nào để chống lại sự lãng quên
Khi đá mủn ra và đánh mất các âm tiết?
[14]
Kẻ đang mang Fès trong gót giày lướt gió
Tiến bước không ngoái nhìn
Các bức tường thành trở thành những gò muối
Các ngôi nhà đã bị mất hết cửa sổ
Và đàn bồ câu.
Người lữ khách với Fès trong mắt,
Đánh mất ngôn ngữ của quê hương
Cùng với kỉ niệm của thời thơ ấu.
Fès không đi đâu hết
Fès ở lại đây,
Bất động và vĩnh hằng,
Một sự có mặt già nua cho những tình nhân không chung thủy
Mệnh phụ đi chân không
Mái tóc buông lơi trong sân dinh thự
Ký ức câm nín
Bị thời gian buồn nản chận lại.
Fès đang ngồi
Dang chân và chờ đợi
Sevilla và Granada.**
___________
** Viết theo tiếng Pháp là Séville và Grenade trong nguyên tác, như Andalousie (Andalucía), Cordoue (Córdoba), Venise (Venezia), và Sicile (Sicilia). Người dịch chọn thay thế bằng tiếng Tây Ban Nha và tiếng Ý, dễ đọc hơn và có thêm một âm tiết.
[15]
Chiếc áo dài treo trên móc
Phủ kín ngọn đèn chùm bằng pha lê của Venezia
Lũ bọ nhậy rơi
Xuống mái đầu hói của bọn lái buôn trong đền
Ẩm ướt rịn trên trần nhà
Lướt qua trên những khuôn mặt ngái ngủ
Ngôi nhà trườn tới vườn hoa
Và đánh mất những kẻ trú ngụ
Ngoại trừ
Bà cụ nô lệ từ Guinée
Nhìn thành phố bước xuống mồ
Cụ hút một điếu kif.
[16]
Và bà mệnh phụ đang ngồi và không bị quấy rầy
Sẽ ngẩng đầu lên một lần thôi
Để chối từ?
Con lừa uống nước nguồn
Tại chỗ các cô gái quê đang giặt đồ
Gã ăn xin chìa bàn tay ra và khạc nhổ cái mệt
Riêng lũ trẻ thì cứ bước đi
Nhẹ nhàng và hạnh phúc
Xuyên qua mái tóc tẩm dầu
Chúng bước quanh bà mệnh phụ
Và ca hát chọc ghẹo cho bà cười.
Bà mệnh phụ thiếp ngủ
Mắt mở.
[17]
Fès không mù tịt gì cả
Nỗi buồn của nó chỉ giả vờ
Những im lặng của nó nhét trong các tảng đá
Mắt nó bị mờ vì khói nhang
Mơ mơ màng màng trong sương khói
Đôi chân đất sét của nó duỗi thẳng
Và hồi nhớ:
Từ Bagdad Idriss trốn đi
Từ Córdoba các cô gái Andalucía kéo đến
Từ Kairouan các nghệ nhân di tản
Và từ Sahara một gã che mặt đã tới
San bằng các bức tường thành.
[18]
Fès thích để cho các khu vườn bao vây
Với những trái tim treo
Nó để cho một con sông nhỏ cắt đôi
Con sông với những viên sỏi bạc
Fès không khiến cho lũ chim bị thất vọng
Và không lưu đày chúng trong các bụi gai
Fès cung ứng chỗ trú cho những ánh mắt bị sỉ nhục
Trong nghĩa trang của các Mái Vòm
Bên cạnh tổ tiên
Và những linh hồn đã phụt tắt
Fès kiểm điểm bầu trời
Và giữ lại cho mùa đông
Vài mảnh sao vỡ.
[19]
Khi gió mang tới những lời thì thầm của những kẻ yêu nhau
Khi mưa lau chùi chiếc sân của ngôi nhà lớn
Ánh sáng của buổi chiều thêm dịu êm
Và rắc trên Fès một màn bụi mỏng
Đêm chậm tới
Bởi vì ánh trăng đã rót vào đôi mắt trong veo
Của một phụ nữ
Đã mất tất cả trừ lí trí.
Fès đã giữ gìn nàng từ bao thế kỉ
Trong chiếc vại lớn trong lâu đài.
[20]
Người ta nói rằng nước của Fès tăng khẩu vị cho cuộc đời
Trộn với mùi bạc hà của Meknès
Nó làm mát những trái tim
Người ta nói rằng dầu của Fès
Rót trên gừng
Mang lại hy vọng cho những định mệnh tan nát
Người ta cũng nói rằng những phụ nữ của Fès
Có nước da nõn và hông dễ gãy
Họ mập mạp và họ thích cười.
Người ta bảo rằng bọn đàn ông ưa xây dựng
Uể oải và ham chơi.

 

[21]
Thời gian đã rơi trong phần tồn tại của đồng hồ nước
Thời gian không đứng lại
Thời gian đã chìm trong tiếng nước ngân nga.
Dar El Magana
Ngôi nhà của đồng hồ
Không cho giờ nữa
Nó nói về sự vĩnh hằng
Mười ba cái bàn chân quì bằng gỗ thông bách hương
Trông coi thời gian bất tận
Của đá tảng và của ánh sáng
Chim ưng nhỏ xuất đầu lộ diện
Để xác nhận:
Căn nhà của thời gian kia là
Lâu đài của vĩnh hằng.
[22]
Trong biệt khu Diwan của El Attarine
Chợ trời gia vị toả nhạc
Hạt thì là và hạt tiêu
Quế và ớt ngọt của Soudan
Gừng và hột rau mùi
Nghệ vàng của Andalucía
Và muối biển
Trà tàu và quả nhục đậu
Xạ hương và nguyệt quế
Trau đổi sắc màu
Khi cô dâu trên lưng con la đi qua
Pha trộn những mùi hương
Và dâng sự ngất ngây
Cho tên lái buôn lạc đà đã phá sản
Trong tận cùng biệt khu Diwan
Màu xanh methylène trong cái bao bố
Bỏ quên
Cạnh vôi trắng.
[23]
Hắn đã ăn đất, tro
Và bánh mì cũ
Hắn đã uống nước giếng
Như chiếc lá của mùa thu
Hắn rơi nhẹ
Xuống chiếc giường trải vải len rừng
Hắn đã quay nhìn ánh sáng
Và hắn chỉ thấy bóng dọi của trời
Thành phố của quê nhà là thế đấy
Một gia đình được người ta bầu lên
Đang đuổi theo bạn
Và dính cứng trên đầu lưỡi
Người ta sử dụng câu nói chào đời ở Fès
Như thể để chế ngự định mệnh
Nhưng Fès là một bà mẹ lạm quyền
Ôm trong tay một đàn con ma.
[24]
Bab Ftouch không còn đứng ở chỗ cũ
Nó đã bay theo gió mùa thu
Bức tường thành đã xoay hướng
Và Bab Boujloud xoay nhìn dòng Sebou
Thành phố khép kín trên niềm tự hào
Ngủ gục
Cửa vào nhà thảy đã lệch theo thời gian
Cửa sổ cũng bay ra đồng
Khiến nó thêm buồn bã
Cớ chi mà ngần ấy kẻ lạ xa
Ngất ngây trước những gì còn lại
Của một cơ thể không còn mặt mũi?
[25]
Trên vai cha tôi
Tôi đã thấy Kissaria dâng cho lửa
Vài ngôi sao phụ hoạ công việc của hoả thần
Tôi thấy những bàn chân giẫm lên những thân hình
Đám phụ nữ chạy vào ngôi giáo đường của bọn đàn ông
Tôi đã nghe tiếng muezzin thúc giục chạy trốn
Hoả hoạn soi sáng mê lộ
Những tấm gương chận bước tiến của lửa
Và Fès
Thành phố cũ
Muốn dập tắt ngọn lửa bằng những giọt nước mắt.
[26]
Tại sao Fès đã chối bỏ cội nguồn?
Tại sao thời gian đã bỏ quên nó trong xó kẹt?
Tại sao những con đường của Fès đã sụp đổ
Và các bức tường của nó đã xích gần nhau?
Thành phố hay các mặt nạ của nó
Đã cất giữ sự nghèo khó?
Lời xầm xì hay tiếng cầu kinh
Đã khép mắt cô dâu của muôn kiếp?
Sự kiêu hãnh của đá
Hay sự lầm lẫn của thời gian đã khiến Fès ở ngoài tầm tay?
Fès thiếp ngủ không còn chiêm bao
Nhưng còn giữ tên và uy tín
Trong lúc vài nông dân nhóm lửa
Bằng một cánh cửa của thế kỉ mười ba.
[27]
Nước trong sạch
Biết bao nẻo đường đọc đi đọc lại
Nước của nguồn
Hoà lẫn với khoa học
Cung cấp ánh sáng cho những lần khai sinh
Và những khuôn mặt chán nản.
Fès không chỉ có nước
Để giữ gìn
Fès có làn da của một cái chết bất công
Bại trận vì những đêm nặng nhọc
Cướp phá bởi những kẻ kể chuyện không xứng đáng
Một cái gì đã bị xé toạc
Trên chiếc áo nâu của mùa đông
Fès bị cơn gió, cái lạnh, và sự lãng quên phanh ngực áo.
[28]
Tôi còn nhớ các trò chơi bị cấm trên các sân thượng
Nơi mà cơ thể của bọn con gái thoát li
Nơi mà bàn tay của chúng tôi tản mác
Đi tìm những bộ ngực trẻ măng
Nơi mà nỗi sợ là niềm vui xấc láo
Gom góp mưu mẹo và tiếng cười của chúng tôi
Nỗi sợ trắng của lạc thú xa lạ
Nằm dưới đất
Chúng tôi phát hiện
Vết bỏng cháy của tình yêu đắng cay.
[29]
Phải chăng nhờ các thành trì
Các ngọn đồi của các vị thánh vả của những người chết
Phải chăng vì linh hồn của thành phố
Mãi mãi sống động
Phải chăng vì cái nhan sắc
Của vài phụ nữ và huyền thoại
Mà sự cô độc
Tấm áo choàng bằng vải len mênh mông
Nỗi sợ lớn về khoảng trống
Chưa từng len lỏi vào lòng của Fès?
Bởi vì thành phố chính nó là
Sự cô độc uy nghi
Vĩ đại và cao kì.
Mỗi tảng đá là một vết thương
Một câu chuyện kể sai.
[30]
Giờ đây tôi cởi áo kẻ vắng mặt
Xa những khuôn mặt bôi phấn bởi ngần ấy lãng quên
Giờ đây khi ngôi mộ đang chờ
Khi bọn đàn bà khóc mướn đã tới
Từ Sénégal và Guinée
Fẻs trở mình trên giường
Như thể nó chưa hề đau khổ
Gạt xa cảnh chung cuộc
Nó phát âm từ ngữ Venezia, Petra và Babylone
Không hoài cảm
Chẳng hận thù
Nó tụ họp các thành viên
Sắp đặt lại các khu phố
Kiểm kê những mất mát
Bôi xoá cái giả hiệu
Và bước lê trong giáo đường.
Với tôi Fès chỉ là nỗi đau ngầm
Bên ngoài những con chữ
Mặc dù chúng tôi đã bị thất lạc
Ngoài khơi của hi vọng
Nơi giáp tuyến của ngôi sao đã tắt.
Fès di chuyển trong những hồi ức
Và tuôn chảy trong những bài ca não nề
Hỏi xin một cái chăn
Cho mùa đông của điêu tàn hoang liêu
Khơi gợi sự vinh quang và những chiến thắng
A Fès! Sao mi không là một vết bỏng của thời thanh xuân
Một bức tranh hoành tráng trong viện bảo tàng
Một mảnh đất dung thân cho lũ đắm tàu của những đêm Andalucía?
Sao mi không là sự rạo rực của dục vọng
Tập bản thảo phát hiện ở Granada?
Ôi Fès! Nỗi lo sợ của chúng ta xé những tấm ra của sự buồn nản
Sự khôn ngoan của chúng ta đã bị ôi rồi
Sa mạc trong tim chúng ta
Miền đất bất kiêng*
Cây trôi trên biển nóng
A Fès!
Lời kinh thô tục
Lời nói thoá mạ
Vinh quang nhỏ nhoi
Sao mi cay đắng?
Ngôi sao của mi đã trộn với muối
Và chúng ta nhìn nhau
Trên khuôn mặt của mi
Tấm gương linh hồn của chúng ta.
————
*impie trong nguyên tác
————-
Nguồn: Tahar Ben Jelloun, Les Pierres du Temps et autres poèmes (Paris: Éditions du Seuil, 1995). Con số trên mỗi bài do người dịch thêm vào.
  nguon :tienve.org
NĂM BÀI THƠ VỀ HỘi HỌA JAMES BROWN
Bản dịch Nguyễn ĐăngThường
 
[1]
Cây là một suy tư
có khuôn mặt nhăn nhó
sự xuyên qua các dấu hiệu
của một câu chuyện đã trút bỏ thời thanh xuân
cùng với những huy hoàng của nó.
Màu sắc đã tẩm kí ức
và đang bước xuống cầu thang của chữ
cho tới lúc thể hiện
khuôn mặt hiển nhiên
Đó là bàn tay là sự chói loá
ý nghĩa
sự có mặt xa hơn mọi tương tợ.
Trong rãnh sâu của âm tiết
mảnh vỡ của những giấc mơ
nuốt những chiếc lá bẩn của mùa đông
[2]
Một ý tưởng trên mây
cũng tựa như một khuôn mặt hướng lên trời.
Bụi rơi trên những nguyên âm của nghi ngờ
kia và nọ
như thịt bị xoá.
Bóng tối không còn thân hình
luồn lách giữa những vật trắng của đêm
bị kết liễu bởi tình yêu cô độc.
Mây đập vỡ cái bề ngoài
và con mắt mở
trên màu xanh của vắng xa.
[3]
Bàn tay tớp xa vắng
để lại những vết chim bị thương
sự hấp hối vươn lên chống cái chết chao đảo.
Máu hay màu
đang rịn trên thân cây
hay chỉ là một khuôn mặt do lưu đày mơ tưởng?
Một ẩn hiện trong cái gương cũ
nơi thời gian để lại chút cát,
gỉ của sét và bọt nước lạnh
sự hao mòn được báo trước
của một kỉ niệm đánh lạc chỗ ở.
[4]
Gió đã thổi qua trên tấm khăn liệm của những
          kẻ bại trận.
Dưới tảng đá là một cuộc đời khác
hôn lễ vắng mặt
nơi mà nỗi đau tự nới rộng
chỗ ngụ tối hậu của ngôn từ
trái đất rung bật vì tiếng cười và kinh ngạc.
Và con thú hốt hoảng lồng lên
khi ở đằng xa
một người đàn ông và một người đàn bà
giao hợp trong nghĩa địa.
Cơn gió của ngày trở về
viết sự bơ vơ.
[5]
Lang thang là con gái của đêm
khi muộn phiền khua động những trái tim
và linh hồn lê chân trong hậu xứ.
Cây cọ kia chỉ là kỉ niệm
của một cuộc đời rộng lớn
mỏi mệt vì giấc mộng buồn.
Nó đào bóng nó trên đá cũ
như một tiếng thở than vô vọng.
Đêm trang bị bóng tối, biển, sóng,
gươm và sao sa,
đêm ảo giác cuồng nhiệt
ăn lấn rừng, màu xanh của trời
và những im lặng dày cộm của vĩnh hằng.
Như dã thú giấu móng vuốt
trăng lạnh lẽo và buồn bã,
trăng hấp hối
rình rập những kẻ bị mất ngủ.
————–
Nguồn: “Cinq poèmes sur la peinture de James Brown”, trong Tahar Ben Jelloun Poésie complète 1966-1995 (Paris: Éditions du Seuil, 1995). Con số trên mỗi bài do người dịch thêm vào.