Julio Cortazar-Truyện ngắn (2)

người dịch : Hoàng Ngọc Tuấn  DIỄN VĂN CỦA GẤU

Tôi là con gấu sống trong những đường ống của toà nhà. Tôi leo trèo qua các ống dẫn vào những giờ khắc yên tĩnh, những ống dẫn nước nóng, những ống lò sưởi, những ống dẫn của máy điều hòa không khí. Tôi đi qua những đường ống từ căn hộ này qua căn hộ nhà khác và tôi là con gấu đi qua những ống dẫn.

Tôi nghĩ là họ thích tôi bởi lẽ chính bộ lông tôi đã giữ cho những đường ống lúc nào cũng sạch. Tối ngày tôi cứ mải chạy qua các ống và tôi thấy không có gì thích thú hơn là lủi qua những cái ống dẫn, chạy từ tầng lầu này lên tầng lầu khác. Thỉnh thoảng tôi thò chân qua một cái vòi và cô gái ở tầng ba la toáng lên là cô đã tự làm mình bị bỏng, hoặc tôi cất tiếng gầm gừ ngang tầm lò nấu tầng hai, và người làm bếp tên Wilhelmina than phiền là cái ống khói không thông. Ban đêm tôi lặng lẽ đi, và khi nào di động nhanh hết mình là tôi lên đến tận mái nhà qua ngõ ống khói để xem trăng có nhảy nhót trên đó không, và từ đó nhanh như cơn lốc tôi thả mình tuột xuống đến những cái thùng đun nước nóng dưới tầng hầm. Và những buổi tối mùa hè tôi bơi trong bể chứa nước mưa lấp lánh đầy những ánh sao; trước tiên tôi rửa mặt bằng một chân bên này, rồi bằng chân bên kia, và sau cùng là bằng cả hai chân một lúc, và tôi thấy vui vô cùng.

Kế đó qua những đường ống trong nhà tôi tuột xuống trở lại, cất tiếng gầm gừ một cách sung sướng, và những cặp vợ chồng lăn qua lăn lại trên giường và phàn nàn về chất lượng những đường ống đặt trong nhà. Có người còn bật đèn lên và ghi mấy chữ trên giấy để họ có thể nhớ mà kêu ca khi họ gặp người quản lý. Tôi tìm cái vòi nước lúc nào cũng quên khoá ở một tầng lầu nào đó và thò mũi ra nhìn vào bóng đêm bao phủ các căn phòng mà những con người sống ở đó không thể đi trong những ống dẫn, và tôi luôn thấy tội nghiệp cho những sinh thể nặng nề, to lớn ấy, khi tôi nghe họ lớn tiếng ngáy và nói trong mơ và họ quá cô đơn. Buổi sáng khi họ rửa mặt, tôi vuốt ve hai má họ và liếm vào mũi họ rồi tôi bỏ đi, mơ hồ cảm thấy như thế là cũng đã làm được một điều gì tốt rồi.

 

Bản dịch Việt văn đã đăng lần đầu trên tờ Ngày mới, SLC Xuân 1995.

 

Dịch từ bản tiếng Anh “The Bear’s Speech” của Paul Blackburn [bản tiếng Anh của Paul Blackburn nguyên có nhan đề là “The Discourse of the Bear”] trong Where Angels Glide at Dawn – New Stories from Latin America, do Lori M. Carlson và Cynthia L. Ventura biên tập, Isabel Allende giới thiệu (New York: J.B. Lippincott, 1990). Tiền Vệ hiệu đính bản dịch, căn cứ theo nguyên tác tiếng Tây-ban-nha “Discurso del oso”, trong Julio Cortázar, Historias de cronopios y de famas [1962] (Madrid: Ediciones Punto de Lectura, 2004). ————-Chú thích:Bức minh họa ở đầu truyện là tranh mộc bản của José Ortega, hoạ sĩ người Ecuador, tốt nghiệp School of Visual Arts, New York.

 

 
SỰ BẤT KHOAN DUNG

 

 

Tôi chưa bao giờ có thể khoan thứ cho những cái ngáp, đặc biệt từ miệng của một anh cảnh sát. Nó vượt quá sức chịu đựng của tôi. Nếu tôi thấy một anh cảnh sát há miệng ngáp tại một góc đường, tôi liền đi thẳng đến và cho anh ấy một cái tát hai chiều qua-lại, chanh chách như chim bồ câu đập cánh. Tôi đã phải trả giá điều đó bằng ba cái xương sườn gãy và tổng cộng mười lăm tháng tù, chưa kể những vết bầm tím và trầy sướt. Nhưng tôi không thể làm được gì khác và cách duy nhất để tránh những sự rủi ro ấy là gặp gỡ những anh cảnh sát yêu nghề và đam mê tận tuỵ với công việc giải quyết lưu thông xe cộ. Tệ hơn nữa là đối với các cha cố: nếu tôi bắt gặp một ông linh mục há miệng ngáp, sự phẫn nộ của tôi không còn giới hạn nữa. Lập tức ngay sau đó, tôi đến dự một buổi lễ mixa và đứng tại hàng ghế đầu tiên để lom lom theo dõi người chủ lễ. Nếu ông ấy tỏ vẻ ngạc nhiên khi thấy tôi ngáp đúng ngay vào khoảnh khắc thiêng liêng nhất – mà từ trước đến nay tôi đã có hai lần ngáp như thế – thì một động lực vô hình mạnh hơn tôi lôi tôi chạy lên giảng toà, và bạn không cần phải biết những gì tất phải xảy ra sau đó. Có những bộ hồ sơ dày cộm về tôi tại những toà án của giáo hội, tôi biết, và có một số nhà thờ đã rút phép thông công tôi và ném cổ tôi ra ngoài đường ngay khi tôi vừa bước vào chính điện. Riêng cá nhân tôi, tôi thích ngáp. Nó hợp vệ sinh và làm đôi mắt tôi ứa đầy lệ, tống xuất nhiều chất ô uế. Nhưng cái ý tưởng ngáp không hề xảy ra cho tôi trong những lúc tôi đang cầm cuốn sổ ghi tốc ký trong tay, chờ ông Rosenthal đọc một trong những bức thư với thứ chữ nghĩa dài dòng luộm thuộm để bác khước một kiến nghị nào đó. Đôi khi tôi có cảm tưởng rằng ông Rosenthal bực dọc vì tôi không chịu ngáp, bởi vì sự tập trung chú ý của tôi vào công việc đã buộc ông phải tăng lương cho tôi. Tôi dám chắc rằng nếu một lúc nào đó có một cái ngáp vuột ra khỏi miệng tôi thì ông Rosenthal hẳn sẽ âm thầm cảm ơn tôi; hiển nhiên rằng thái độ quá tận tâm với nghề nghiệp làm ông khó chịu. Nhưng tôi hết sức cẩn thận che giấu những cái ngáp đã tích luỹ trong cuống họng và vòm miệng của tôi suốt bốn tiếng rưỡi đồng hồ; do đó, nếu tôi thấy một anh cảnh sát ngáp lúc tôi rời sở, tôi không thể dằn lòng được, và lao đến xáng cho anh ta vài cái tát tai. Nói ra thì nghe nghịch nhĩ, nhưng cuộc tát tai ấy không cho tôi một chút thoả mãn nào cả, bởi vì nó có chút gì giống như ngay trong khoảnh khắc đó tôi vừa là ông Rosenthal vừa là anh cảnh sát, ý tôi muốn nói, giống như ông Rosenthal đang tát tai tôi ngay trên đường phố vậy. Tôi cảm thấy thà bị ăn những cú đạp và bị bỏ tù, hay bị dứt phép thông công nếu tôi gặp phải một linh mục, bởi vì đó là những điều chỉ động chạm đến riêng tôi, chứ tôi không thích những sự cố xảy ra mà trong đó không ai biết ai là ai nữa.

 

 

———————–Dịch từ nguyên tác tiếng Tây-ban-nha: “Intolerancias”, trong Julio Cortázar, Último Round (México: Siglo XXI Editores, 1969). [Tái bản khổ bỏ túi thành hai tập (Madrid: Siglo XXI Editores, 1972)].

 

 

 

MẶC QUẦN ÁO CHO MỘT CÁI BÓNG

 

Điều khó nhất là cắt nét chung quanh nó, xác định giới hạn của nó nơi nó nhoà vào khoảng tối chạng vạng. Chọn nó ra giữa quá nhiều cái bóng khác, tách nó ra khỏi luồng ánh sáng mà tất cả những cái bóng đều lén lút hít thở một cách đầy bất trắc. Mặc quần áo cho nó một cách nhẹ nhàng thoải mái, đừng cử động nhiều quá, đừng làm nó sợ hoặc tan biến mất: đây là bước sơ khởi của công việc mà mỗi động tác không hề chứa đựng một điều gì đáng ngờ cả. Những mẩu đồ lót, cái áo ngực trong suốt, đôi vớ dài như một dải lụa chạy ngược lên cặp đùi. Nó sẽ để cho bạn làm tất cả điều này trong một khoảnh khắc vô tư thoáng qua, như thể nó cứ tưởng nó còn đang chơi đùa với một cái bóng khác, thế nhưng thình lình nó sẽ trở nên khó chịu khi cảm thấy có cái váy bó ngang hông nó và những ngón tay đang cài nút giữa cặp vú nó, chạm lướt vào chiếc cổ mà nó đang ngẩng cao lên cho đến khi chìm khuất vào một làn hơi nước tối tăm. Nó sẽ cưỡng lại cái động tác đội lên đầu nó một mái tóc giả vàng óng thướt tha (cái quầng sáng rung rinh quanh một khuôn mặt không hiện hữu!), và bạn phải nhanh nhẹn vẽ cái miệng nó bằng đầu điếu thuốc đang cháy lập loè, đeo ngay những chiếc nhẫn vào những ngón tay nó và những vòng kiềng vào hai cổ tay nó để định hình đôi bàn tay nó, và trong khi nó ngần ngừ kháng cự, thì cặp môi vừa được tạo hình của nó thốt lên tiếng kêu thiên cổ của con người vừa tỉnh giấc trước thế giới. Nó chưa có đôi mắt, đôi mắt phải được tạo hình bằng nước mắt; cái bóng sẽ tự hoàn tất hình hài của chính nó để kháng cự và chối từ hữu hiệu hơn. Nhưng nó sẽ cảm thấy phấn khích không thể cưỡng được khi chính cái sức mạnh đã mặc quần áo cho nó, chính cơn khao khát đã chứng kiến nó thành hình từ khoảng không mờ mịt, giờ đây lại cuống quít ve vuốt mơn trớn nó, giờ đây lại bắt đầu lột trần truồng nó ra, lần đầu khám phá cái thân thể trinh nguyên mà nó đang hoài công dùng đôi bàn tay che đậy cùng những lời năn nỉ, để rồi nó dần dần nhượng bộ, ngã xuống giữa tia lấp lánh của những chiếc nhẫn loé sáng trong bóng đêm như ánh chớp của loài đom đóm.

 

 

MỌI KHỐI CẦU ĐỀU LÀ KHỐI LẬP PHƯƠNG

 

Điều phiền toái trước tiên bao giờ cũng là cô của tôi. Khi tôi nói với cô tất cả những khối cầu đều là những khối lập phương, cô biến thành màu xanh lá cải bina. Cô đông cứng ở lối ra vào, tựa người trên cán chổi, và nhìn tôi với ánh mắt diễn tả một nỗi háo hức muốn nhổ nước miếng vào mặt tôi. Rồi cô bỏ đi và cắm cúi quét sân hè mà không cất lên những bài hát bolero — những bài hát đem niềm vui đến cho cả nhà vào mỗi buổi sáng.

Điều khó khăn kế tiếp chính là khối cầu. Rủi thay, ngay khi tôi thả nó xuống một mặt phẳng xiên góc, nơi bất kỳ khối lập phương nào cũng vui vẻ chơi cầu tuột, thì khối cầu lại nhấc bổng tất cả những bàn chân bé xíu của nó lên và lao xuống nền nhà như một tia sét đánh, lăn cù, chạy tít xuống dưới gầm chạn bát đĩa nơi, với sự trùng hợp ngẫu nhiên kỳ lạ, hàng đống những quả banh lông đã nằm sẵn ở đó. Lôi nó ra từ dưới ấy quả là một công việc nhọc nhằn: tôi phải xắn tay áo lên và, bởi vì tôi dị ứng với bụi, tôi bắt đầu nhảy mũi quá mạnh đến nỗi những đám mây bụi to tướng chạy ra cùng lúc với khối lập phương và ngay tức khắc tấn công tôi bằng một cơn suyễn trầm trọng, nên tôi không thể đến sở làm, và ông Rosenthal doạ không trả tiền lương cho tôi ngày đó, rồi cha tôi bắt đầu nhìn tôi với ánh mắt ấy khi ông ngủ dưới những bầu trời trong chuyến thám du sa mạc, và cô tôi rốt cuộc vẫn luôn luôn tìm lại được khối cầu và đặt nó vào nơi gia đình tôi nghĩ là đúng chỗ, tức là, trên tủ sách trong phòng khách, giữa những cuốn sách của Tiến sĩ Cronin và con chim nhồi bông của anh tôi, người đã qua đời lúc còn bé.

Cha tôi đã hỏi tôi hai lần tại sao tôi cứ bướng bỉnh chơi cái trò vớ vẩn như thế, nhưng tôi không xem câu hỏi ấy đáng để trả lời vì thái độ thụ động của ông làm tôi cụt hứng. Có lẽ nào mọi người cứ sẵn lòng để cho cái khối cầu ấy áp đặt ý muốn của nó lên họ? Một lần nữa tôi lại tranh đấu với cái khối cầu mà, tôi biết, là một khối lập phương; tôi thả nó xuống một mặt phẳng xiên góc, cô tôi biến thành màu xanh lá cải bina, những quả banh lông, cái vòng lẩn quẩn. Rồi tôi đợi cho cho hết cơn suyễn, tôi mang khối cầu thả xuống một mặt phẳng xiên góc, vì đó là chỗ của nó, chứ không phải trong phòng khách, bên cạnh con chim nhồi bông.

 
KHÔNG, KHÔNG, VÀ KHÔNG

 

 

 

Ông Silicose hoàn toàn điên khùng nếu ông nghĩ rằng tôi sắp cho ông một con kiến. Trong lúc này ông chỉ xin một con, hy vọng thuyết phục được tôi bằng lối cư xử ôn tồn của ông, nhưng ngay lúc đầu tiên (chiều ngày 22 tháng Mười Một) ông đã đòi hỏi nhiều hơn gấp bội, ông đã muốn có nguyên những ổ kiến, những đoàn quân kiến, nói trắng ra là tất cả kiến trên trái đất. Ông điên thật rồi. Không những tôi sẽ không cho ông một con kiến mà tôi còn có ý định đi bộ ngang qua nhà ông với một con kiến trên ngực tôi, chỉ để làm ông cuồng nộ. Tôi sẽ làm như thế này: trước hết tôi sẽ mang chiếc cà-vạt màu vàng, rồi sau khi đã chọn một con kiến sinh động nhất và có hình vóc sắc sảo nhất trong bầy kiến của tôi, tôi sẽ để nó bò lên chiếc cà-vạt. Như thế, đó sẽ là một cuộc tản bộ song trùng: tôi bước ngang trước nhà ông Silicose và con kiến bước trên chiếc cà-vạt của tôi. Có phải tôi vừa nói một cuộc tản bộ song trùng? Nó sẽ là những cuộc tản bộ bội trùng mở rộng theo hình trôn ốc đến vô hạn, vì nếu con kiến đang bò trên chiếc cà-vạt của tôi, chiếc cà-vạt của tôi đang bước đi cùng với tôi, trái đất đang chở tôi theo trên quỹ đạo của nó, quỹ đạo của nó đang di chuyển xuyên qua thiên hà, thiên hà đang lang thang quanh tinh tú Beta trong chòm Nhân Mã, và ngay vào lúc ông Silicose đang tưởng mình bất di bất dịch, chồm người ra khỏi bao lơn để nhìn thấy con kiến có hình vóc hoàn hảo của tôi với đầy đủ các chân và cặp râu trên chiếc cà-vạt màu vàng của tôi, ông sẽ hiểu ngay, tội nghiệp cho ông, ông sẽ hiểu ngay cái điệu bộ hào nhoáng tót vời của tôi. Ông sẽ bắt đầu chảy nước dãi thành từng chuỗi huê dạng lòng thòng từ miệng và mũi, và vợ cùng các ái nữ của ông sẽ cố gắng làm ông hồi sinh bằng muối ngửi, rồi sẽ đặt ông nằm thẳng đuột trên chiếc ghế xô-pha trong phòng khách. Cái phòng khách ấy, tôi biết nó quá rõ, vì đã trải qua quá nhiều đêm uống trà đá ở đó với cái gia đình lúc nào cũng cháy bỏng niềm háo hức sưu tập những côn trùng.

 

 

 

ĐỪNG ĐỂ CHO…

 

Hiển nhiên, họ sẽ cố mua đứt bất cứ nhà thơ hay nhà văn nào có những lý tưởng xã hội mà tác phẩm của y ảnh hưởng đến thời đại y đang sống; cũng không kém hiển nhiên, chỉ chính bản thân người viết mới có thể bảo đảm rằng điều này không xảy ra.

Nhưng điều khó khăn hơn và đau đớn hơn nữa là việc kháng cự lại cái áp lực từ các độc giả của bạn và từ những người chia sẻ quan điểm với bạn (hai nhóm này không phải lúc nào cũng giống nhau) – thứ áp lực khiến bạn phải nhượng bộ trước mọi sự lạm dụng tình cảm và chính trị và khiến bạn để cho thái độ lịch sự của bạn dẫn dắt chính bạn vào những hình thức “thoả hiệp” công khai nhất và ngoạn mục nhất. Sẽ đến một ngày họ không còn đòi hỏi nơi bạn những cuốn sách, mà đòi hỏi những bài thuyết giảng, những cuộc tranh luận, những cuộc hội nghị, những chữ ký, những thư ngỏ, những bài bút chiến, những giao ước chính trị.

Nỗ lực gian lao nhất của nhà thơ hay nhà văn là duy trì một vị thế quân bình tế nhị để y có thể tiếp tục sáng tạo những tác phẩm bay bổng trên đôi cánh mà không biến thành một thứ quái vật thiêng liêng, một thứ quái thai sáng giá được trưng bày trong cuộc rước lễ hàng ngày của lịch sử. Được như vậy, thì sự dung hoà của y mới có thể trở nên hữu ích trong lĩnh vực thích nghi, nơi tàn cây của y có thể mọc thêm những cành lá mới.

Một câu chua chát nhưng không nhất thiết là một câu dạy đời: Đừng để cho họ mua đứt sự nghiệp của bạn, bạn ơi, nhưng cũng đừng tự đem bán chính mình.

 

 
NHỮNG KHẢ THỂ CỦA SỰ TRỪU TƯỢNG HOÁ

 

Tôi đã làm việc nhiều năm cho UNESCO và cho những tổ chức quốc tế khác, tuy vậy tôi vẫn còn giữ được chút khôi hài và một khả năng trừu trượng hoá đặc biệt đáng ghi nhận, ví dụ như nếu tôi không thích một người nào đó thì tôi xoá hắn đi, chỉ đơn giản bằng cách quyết định như vậy, và trong lúc hắn tiếp tục lải nhải thì tôi đã để trí óc tôi suy nghĩ về Melville và hắn – anh chàng tội nghiệp — cứ tưởng tôi đang lắng nghe hắn. Cũng thế, nếu tôi yêu thích một nàng nào đó, thì nàng vừa bước vào trường thị giác của tôi là tôi đã có thể trừu tượng hoá cho áo quần của nàng biến mất, và trong khi nàng nói với tôi về buổi sáng sao mà lạnh quá chừng, thì tôi đang có những giây phút thích thú chiêm ngưỡng cái rốn nhỏ nhắn của nàng. Cái quyền năng này của tôi, đôi khi, có vẻ không lành mạnh.

Thứ Hai vừa rồi, tôi nhắm vào những cái tai. Vào giờ mọi người đến sở, số lượng những cái tai từ lối ra vào đổ ùa xuống hội trường thật là dị thường. Trong văn phòng của tôi, tôi thấy sáu cái tai, trong quán cà-phê vào buổi trưa có hơn năm trăm cái, được sắp xếp cân phương thành những hàng đôi. Thật vui mắt cứ chốc chốc lại thấy một cặp tai nhô lên, rời hàng, và bay đi. Trông chúng giống như cặp cánh.

Tôi chọn cho Thứ Ba một cái gì đó tôi tin rằng tôi ít khi nhìn thấy: chiếc đồng hồ đeo tay. Tuy nhiên, tôi đã nhầm, bởi vào giờ ăn trưa tôi có thể thấy khoảng hai trăm chiếc đồng hồ đeo tay bay lơ lửng trên những mặt bàn, nhúc nhích tới lui, khiến tôi liên tưởng ngay đến cử động cắt miếng thịt bít-tết. Sang Thứ Tư, tôi thích (với chút ngượng ngùng) một cái gì căn bản hơn, và tôi chọn những hột nút. Ôi, ngoạn mục! Không gian trong hội trường tràn ngập những bầy cá mắt trong mờ trôi theo chiều ngang, cùng lúc ấy, kèm theo và thấp hơn một chút bên dưới mỗi đội quân trôi ngang bé xíu ấy, có hai, ba, hay bốn cái nút cài cổ tay áo đong đưa như những quả lắc. Trong thang máy, chúng tập trung nhiều không thể tả nổi: hằng trăm hột nút, bất động hay chỉ nhúc nhích khe khẽ trong một khối thuỷ tinh có hình dáng kỷ hà lạ lùng. Tôi đặc biệt nhớ đến một khung cửa sổ (lúc ấy vào buổi xế trưa) dưới bầu trời xanh. Tám hột nút đỏ phác một đường dọc khéo léo, và thấp thoáng đó đây một vài vật thể bí ẩn hình đĩa màu xà cừ di động nhẹ nhàng. Nàng chắc hẳn là một phụ nữ rất xinh đẹp.

Rồi vào ngày Thứ Tư Lễ Tro, một ngày mà tôi cho rằng tiến trình tiêu hoá có lẽ sẽ cung ứng một bức minh hoạ thích hợp cho việc ăn chay, từ lúc chín giờ rưỡi sáng tôi đã bất đắc dĩ chứng kiến hằng trăm cái bụng chứa đầy một thứ đồ ăn lỏng màu xám nhạt như một kết quả của cái hợp chất gồm bánh bột bắp giòn, cà phê sữa và bánh mì crốt-xăng. Trong quán cà-phê tôi thấy một trái cam được chia ra thành từng mảnh nho nhỏ, và trong chốc lát những mảnh ấy bị bóp méo mó và nối đuôi nhau chạy xuống đến một độ cao nào đó thì đọng lại thành một chất trăng trắng. Đến chặng này thì quả cam đi băng qua hành lang, xuống bốn tầng lầu, và sau khi tiến vào một văn phòng, nó dừng lại ở một chỗ giữa hai cái thành ghế bành. Cách nơi đó một quãng không xa, có một phần tư lít trà đậm cũng đang nằm ở một vị trí tương tự. Như một chi tiết phụ chú đáng tò mò (khả năng trừu tượng hoá của tôi thường làm những việc kỳ cục): bạn có thể thấy thêm một ngụm khói chạy dọc xuống theo một cái ống, rồi toả vào hai cái túi mờ đục, chạy ngược lên theo cái ống, rồi, sau một cú xoay mình điệu đàng, nó phóng ra ngoài với một hình thù rườm rà như hoa văn baroque. Sau đó (trong một văn phòng khác), tôi kiếm cớ để trở lại thăm quả cam, nước trà và ngụm khói. Nhưng ngụm khói đã biến mất, và thay vì trái cam và nước trà, chỉ còn hai cái ống vặn vẹo, xấu xí. Ngay cả khả năng trừu tượng hoá cũng có phương diện ưu phiền của nó; tôi chào hai cái ống và trở về văn phòng của mình. Nàng thư ký của tôi đang vừa khóc vừa đọc văn kiện thông báo tôi bị sa thải. Để tự an ủi, tôi quyết định trừu tượng hoá những giọt nước mắt của nàng, và trong một giây phút ngắn ngủi tôi khoái trá chiêm ngưỡng những dòng suối bé tí trong ngần phát sinh từ không trung và rơi xuống, vỡ tan trên đống hồ sơ, trên cuốn sổ ghi việc, và trên tờ công báo của cơ quan. Cuộc sống đầy những cảnh tượng đẹp đẽ như thế.

 

 

———————–Dịch từ nguyên tác tiếng Tây-ban-nha: “Posibilidades de la abstracción”, trong Historias de cronopios y de famas [1962] (Madrid: Ediciones Punto de Lectura, 2004).

 

 

NHỮNG HẠT NƯỚC VỠ

 

Nhìn kìa, tôi không biết trời mưa sao mà ghê gớm thế. Mưa mãi không dứt, dày đặc và xám xịt ngoài kia, tạt vào bao lơn này những hạt to tướng, chắc nịch, kêu dòn tan và vỡ lốp đốp như những cái tát, hạt này nối liền hạt kia, nghe tẻ ngắt. Ngay vào khoảnh khắc này có một hạt nước bé xíu xuất hiện nơi khung cửa sổ trên cao; rùng mình dưới màn trời bị cắt thành ngàn mảnh lấp lánh đang trút xuống ngập ngụa, nó lớn dần lên và run rẩy, chực rơi, sắp rơi, nhưng không, nó chưa rơi. Nó đang bám víu bằng những móng tay, nó không muốn rơi và bạn có thể thấy nó đang dùng những chiếc răng cắn vào khung cửa sổ trong khi cái bụng nó đang phình lên thành một hạt nước mập căng, và thình lình, vèo, nó rụng đánh bẹp, vô tăm tích, chẳng còn gì nữa, một chút ươn ướt trên cẩm thạch.

Nhưng có những hạt nước bỏ cuộc và tự tử tức khắc, chúng xuất hiện trên khung cửa sổ rồi ném mình xuống; tôi dường như thấy chúng run run trong cú nhảy ấy, những đôi chân bé bỏng co lại và tiếng kêu lạc lõng trong khoảng trống rỗng của cuộc rụng rơi và tự huỷ. Những hạt nước buồn, những hạt nước ngây thơ tròn trịa ơi. Vĩnh biệt nhé những hạt nước. Vĩnh biệt.

 

 

 

NHỮNG VIỆC LÀM TUYỆT DIỆU

 

Thật là một việc làm tuyệt diệu – cắt cái chân của một con nhện, đặt nó vào một bì thư, viết Gửi Ông Bộ Trưởng Ngoại Giao, ghi thêm địa chỉ, lao xuống thang lầu, và bỏ bì thư vào hộp thư ở góc đường.

Thật là một việc làm tuyệt diệu – rảo bước theo đại lộ Arago, đếm những thân cây, và cứ mỗi lần đếm được năm cây hạt dẻ thì đứng lại chốc lát trên một chân, và đợi đến khi có người nào đó nhìn mình thì gào lên một tiếng ngắn, khô khốc, và xoay mòng mòng như con vụ, hai cánh tay dang ra giống hệt như con chim cakuy kêu thảm thiết trong những lùm cây ở miền bắc Á-căn-đình.

Thật là một việc làm tuyệt diệu – bước vào một quán cà-phê và xin người ta cho thêm đường, rồi lại thêm đường, ba hay bốn lần thêm đường, rồi chăm chỉ xây một hòn núi đường ngay giữa bàn, mặc cho cơn bực bội đang dâng lên dọc theo quầy hàng và dưới những tấm tạp-dề trắng, rồi nhẹ nhàng nhổ một bãi nước miếng ngay chính giữa đống đường ấy, và ngắm nghía dòng sông tuyết nhỏ bé của bãi nước miếng đang chảy xuống, lắng nghe tiếng gào ầm ĩ của những tảng đá vỡ cùng lúc ấy phát ra từ những cổ họng co giật của năm người khách thường vãng lai và ông chủ quán, một kẻ chỉ thành thật vào những khi nổi hứng.

Thật là một việc làm tuyệt diệu – theo một chuyến xe buýt, đáp xuống trước dinh ông Bộ Trưởng, nhanh nhẹn lách qua cổng bằng cách chìa ra một bì thư đóng đầy những con dấu, lướt qua người thư ký cuối cùng, rồi ra bộ nghiêm trọng và không một chút nao núng bước thẳng vào cái văn phòng đồ sộ có gắn đầy những tấm gương soi, đúng ngay vào lúc một người gác cửa trong bộ đồng phục xanh đang trao một bức thư cho ông Bộ Trưởng, rồi ngắm ông ấy mở bì thư bằng một con dao rọc đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, ngắm ông ấy luồn hai ngón tay thanh lịch vào bì thư nhặt ra một cái chân nhện và ngẩn người nhìn nó, rồi bắt chước kêu vo ve như một con ruồi và ngắm ông Bộ Trưởng đang tái nhợt người muốn vất cái chân nhện mà không vất được vì đã bị nó làm cho điếng hồn, rồi xoay người lại và bước ra, miệng huýt gió, loan tin dọc theo cả dãy hành lang rằng ông Bộ Trưởng đang từ chức, rồi dự tưởng rằng ngày mai địch quân sẽ tiến vào và mọi sự sẽ tan tành theo nhà ma cửa quỷ, và đó sẽ là một ngày thứ Năm của một tháng mang số lẻ trong một năm nhuần.

 

 

 

CỤT ĐẦU

 

Họ đã cắt đứt lìa cái đầu của người đàn ông này, nhưng vì lúc ấy có cuộc đình công của phu đào huyệt và họ không thể chôn y được, nên y phải tiếp tục sống không có đầu và cố gắng vận dụng hết khả năng mình.

Y lập tức nhận ra rằng, cùng với cái đầu của y, bốn trong năm giác quan của y đã biến mất. Chỉ còn xúc giác, nhưng lại tràn đầy niềm yêu đời, người đàn ông đặt thân thể mình ngồi xuống trên một băng ghế trong quảng trường Lavalle và sờ mó từng chiếc lá cây, cố gắng phân biệt chiếc này với chiếc kia rồi định danh chúng. Vì thế, sau vài ngày, y tin chắc một cách hữu lý rằng y đã nhặt được và đặt lên đùi mình một lá khuynh diệp, một lá mã đề, một lá mộc lan dại, và một hòn cuội nho nhỏ màu lục.

Khi người đàn ông phát giác rằng vật thể ấy là một hòn cuội màu lục, y hết sức băn khoăn suốt mấy ngày liền. Sỏi thì đúng rồi và có lẽ xúc giác nhận ra được, nhưng màu lục, thì không. Để trắc nghiệm, y thử tưởng tượng hòn sỏi màu đỏ và ngay lúc ấy chợt cảm thấy một sự khó chịu ghê gớm, một phản ứng chối từ đối với điều sai lầm tệ hại này, đối với hòn sỏi màu đỏ giả tạo này, bởi hòn sỏi thì hoàn toàn màu lục và có hình đĩa, rất ngọt ngào cho xúc giác.

Hơn thế nữa, khi người đàn ông nhận ra rằng hòn sỏi thì ngọt ngào, y quá đỗi kinh ngạc một hồi lâu. Rồi y tự nhủ nên vui sướng, vì vui sướng thì lúc nào cũng tốt hơn, bởi giờ đây y thấy chính mình giống như những loài côn trùng nào đó có khả năng hồi phục những phần cơ thể bị đứt mất, y phát hiện y có thể cảm nhận bằng nhiều cách khác nhau. Phấn khích với kết luận ấy, y rời khỏi băng ghế nơi quảng trường và đi ngang qua đường Libertad đến đại lộ Mayo nơi, như mọi người đều biết, ngập ngụa mùi thức ăn xào từ những quán ăn Tây-ban-nha. Sau khi đã khẳng định chi tiết này, và lấy lại được thêm một giác quan nữa, người đàn ông đi lang thang dường như về hướng tây – hay hướng đông – y cũng không chắc là hướng nào, và y dấn bước không mệt mỏi, từng chặp rồi từng chặp mong đợi mình có thể nghe được một điều gì đó, bởi giờ đây thính giác là giác quan duy nhất mà y còn thiếu. Điều y thực sự trông thấy là một bầu trời, nhợt nhạt như lúc tảng sáng, lúc ấy y đang sờ đôi bàn tay của mình bằng những ngón tay đẫm mồ hôi, những cái móng tay nhấn vào thịt của hai lòng bàn tay, và y ngửi ra một mùi gì như mùi mô hôi, và trong miệng y có vị kim loại và rượu cognac. Giác quan duy nhất còn thiếu là thính giác, và ngay lúc ấy y nghe, như nghe lại từ trong ký ức, vì những gì y nghe là những lời nói của ông linh mục tuyên uý ở nhà giam, những lời tự chúng mang đầy hy vọng và niềm an ủi, thậm chí rất đẹp đẽ, nhưng thảm hại thay, chúng mang một vẻ gì đó như đã bị sử dụng, bị nói đi nói lại quá nhiều lần, cũ nát vì đã bị lải nhải mãi, lải nhải không ngừng.

 

 

———————–Dịch từ nguyên tác tiếng Tây-ban-nha:”Acefalía”, trong Historias de cronopios y de famas [1962] (Madrid: Ediciones Punto de Lectura, 2004).

 

 

 

NHỮNG ĐƯỜNG CHỈ TAY

 

Từ một bức thư ném lên mặt bàn, một đường kẻ xuất hiện, chạy ngang tấm ván gỗ thông và leo xuống đất theo một trong những chân bàn. Hãy nhìn, bạn thấy đường kẻ tiếp tục chạy ngang qua sàn gỗ, trèo lên tường và tiến vào một bản in bức tranh sơn dầu của Boucher, cắt một nét phác theo bờ vai của một người đàn bà đang nằm trên một chiếc trường kỷ, và cuối cùng rời khỏi căn phòng, bò xuyên qua mái nhà và tuột xuống theo sợi dây của cột thu lôi, rồi chạy ra đường. Từ chỗ này bạn khó theo dõi nó vì hệ thống giao thông phức tạp, nhưng nếu quan sát kỹ, bạn có thể bắt gặp nó đang trèo lên bánh của một chiếc xe buýt đậu ở góc phố, và chiếc xe buýt chở nó đi đến tận nơi có những bến tàu. Đến đó, nó rời xe bằng cách trượt xuống theo đường may trên chiếc vớ ny-lông ống dài láng mướt của một cô hành khách có mái tóc vàng óng nhất, xâm nhập vào lãnh thổ đầy bất trắc của những trạm quan thuế, nhảy cẫng lên và bò ngoằn ngoèo rồi trườn theo hình chữ chi, tiến đến bến tàu lớn nhất, và tại đó (nhưng quả là khó thấy được nó, chỉ có những con chuột cống theo sau nó để lẻn vào hầm tàu) nó trèo lên chiếc tàu thuỷ đang nổ máy ầm ầm, băng qua những tấm ván lót sàn của khoang hạng nhất, rán sức chui lọt qua nắp hầm tàu, và trong một gian phòng nhỏ nơi một người đàn ông buồn bã đang uống cognac và nghe tiếng còi tàu biệt ly, nó trèo lên đường may của ống quần, bò ngang qua chiếc áo chẽn đan bằng len sợi, trượt ngược về phía cùi chỏ và với một cú rấn cuối cùng, nó lọt vào trong lòng bàn tay phải, vừa đúng lúc bàn tay ấy bắt đầu siết vào báng súng lục.

 

 

———————–Dịch từ nguyên tác tiếng Tây-ban-nha:”Las líneas de la mano”, trong Historias de cronopios y de famas [1962] (Madrid: Ediciones Punto de Lectura, 2004).

 

 

 

CÂU CHUYỆN KHÔNG DẠY ĐỜI

 

Một người đàn ông bán những tiếng kêu và những con chữ, và công việc của y khá trôi chảy mặc dù y luôn luôn gặp phải những khách hàng cãi cọ với y về giá hàng và đòi y giảm bớt. Hầu như lúc nào y cũng nhượng bộ, và nhờ đó y bán được rất nhiều tiếng rao cho những kẻ bán hàng rong, một vài tiếng thở dài mà phụ nữ về hưu thường mua, và những con chữ cho những tấm bích chương trên hàng rào, những bảng hiệu trên tường, những khẩu hiệu, những mẩu giấy viết thư, những danh thiếp, và những chuyện đùa.

Thế rồi người đàn ông nhận ra rằng giờ phút cuối cùng của đời mình đã đến, và y xin được nói chuyện với một cử toạ có sự hiện diện của nhà độc tài của đất nước. Nhà độc tài bèn tụ tập tất cả thuộc hạ và cho người đàn ông ngồi giữa các tướng lãnh, các bí thư, và những cốc cà-phê.

“Tôi đến đây để bán cho ngài những lời trăn trối cuối cùng của ngài,” người đàn ông nói với nhà độc tài. “Những lời trăn trối rất quan trọng, nhưng trong giây phút cuối cùng chúng sẽ không bao giờ tự nhiên bật ra đúng như ý ngài muốn, trái lại, ngài mua những lời này và ngài sẽ thốt chúng ra một cách thích nghi vào khoảnh khắc nghiêm trọng ấy để sau này hậu thế sẽ dễ dàng nhìn thấy ngài mang một định mệnh lịch sử.”

“Dịch cho ta nghe những điều y đang nói,” nhà độc tài ra lệnh cho thông dịch viên.

“Y đang nói tiếng Á-căn-đình, thưa Ngài Cao Cả.”

“Tiếng Á-căn-đình? Thế tại sao ta không hiểu?”

“Ngài đã hiểu rất rõ,” người đàn ông nói. “Tôi lập lại. Tôi đến đây để bán cho ngài những lời trăn trối cuối cùng.”

Nhà độc tài đứng phắc dậy, đúng theo kiểu ứng phó trong những trạng huống như thế, và cố nén sự run rẩy, ra lệnh thuộc hạ bắt lấy người đàn ông và nhốt y vào những căn hầm đặc biệt vốn luôn luôn có sẵn trong những khung cảnh đầy quyền lực như vậy.

“Thật đáng thương hại,” người đàn ông nói trong lúc bọn lính đang đem y ra khỏi phòng. “Trong thực tế, ngài muốn nói những lời cuối cùng khi giây phút ấy đến, và điều cần thiết là nói làm sao để sau này chúng dễ dàng được hậu thế xem như một định mệnh lịch sử. Những gì tôi sắp bán cho ngài là những gì chính ngài muốn nói, cho nên không có sự lường gạt trong việc mua bán này. Nhưng vì ngài từ chối việc này, nên ngài sẽ không học thuộc những lời này sẵn trước, và đến giây phút ấy, khi những lời trăn trối muốn nhảy ra, thì tự nhiên ngài sẽ không thể nói nên lời.”

“Tại sao ta không thế nói ra những lời ấy nếu chúng lại chính là những gì ta muốn nói?” nhà độc tài gặng hỏi trong lúc sắp uống thêm một ly cà-phê khác.

“Bởi cái sợ sẽ không để ngài nói,” người đàn ông buồn bã nói. “Vì sẽ có một cái thòng lọng tròng quanh cổ ngài, ngài sẽ mặc áo ngắn tay và run lẩy bẩy vì khiếp đảm, và không khí lạnh khiến hai hàm răng ngài đánh lập cập, và ngài sẽ không thể thốt ra được một lời nào cả. Người xử giảo và những kẻ phụ tá của hắn, trong số đó có nhiều ông trong cử toạ này, sẽ chờ đợi vài phút cho có nghi thức, nhưng kịp khi cái miệng của ngài thốt ra chỉ một tiếng rên bị đứt quãng vì nấc cụt và vài câu van vỉ xin tha (bởi vì, chắc chắn ngài sẽ nói lời xin tha rõ ràng từng chữ), thì bọn họ sẽ mất kiên nhẫn và sẽ treo cổ ngài ngay.”

Quá đỗi bất bình, các phụ tá và tướng lãnh xúm đến quanh nhà độc tài và xin gã ra lệnh bắn người đàn ông lập tức. Nhưng nhà độc tài, tái-nhợt-như-xác-chết, xua tất cả bọn họ ra khỏi cửa, chỉ còn chính gã và người đàn ông ở lại sau cánh cửa khoá chặt để gã mua những lời trăn trối cho mình.

Trong lúc ấy, các tướng lãnh và bí thư, cảm thấy nhục nhã cực độ vì bị đối xử như thế, bàn với nhau một âm mưu lật đổ, và sáng hôm sau bọn họ đến bắt nhà độc tài trong khi gã đang ăn nho tại một khách sảnh mà gã ưa thích. Để nhà độc tài khỏi nói lời cuối cùng, bọn họ bắn gã chết ngay tại chỗ, miệng còn ngậm nho. Sau đó, bọn họ lùng bắt người đàn ông, kẻ đã rời khỏi Phủ Chủ Tịch, và họ chẳng phải mất thì giờ vì y đang rảo bộ qua chợ để bán những câu giễu thông thường cho các diễn viên hài kịch. Nhốt y vào một xe bọc sắt, bọn họ chở y đến một chiến hào nơi bọn họ tra tấn y để buộc y tiết lộ những lời trăn trối mà nhà độc tài không kịp nói ra. Không cách nào bắt y thú nhận, bọn họ giết y bằng những cú đá trí mạng.

Tại những góc đường, những kẻ bán hàng rong vẫn tiếp tục rao những lời rao đã mua lúc trước, và một trong những lời ấy sau này trở thành một câu thần chú và một mật hiệu cho lực lượng phản cách mạng đã tiêu diệt các tướng lãnh và bí thư. Vài người, trước khi chết, suy nghĩ lẩn quẩn rằng thật ra tất cả mọi sự chỉ là một chuỗi ngu xuẩn của những nhầm lẫn, và, những con chữ và những tiếng kêu là những vật có thể bán được nhưng không thể mua được, nói cho thật chính xác là thế, bất chấp điều này có vẻ phi lý đến chừng nào đi nữa.

Và bọn họ tiếp tục thối rữa, tất cả bọn họ: nhà độc tài, người đàn ông, các tướng lãnh và các bí thư; nhưng thỉnh thoảng nơi những góc đường, người ta vẫn còn nghe những tiếng rao hàng.

 

 

tienve.org